Hết 9 tháng năm 2026, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) bình quân của Việt Nam tăng 4,52% so với cùng kỳ năm trước, nhích qua mục tiêu khoảng 4,5% mà Quốc hội giao cho cả năm; riêng tháng 9, giá tiêu dùng cao hơn cùng kỳ 5,08%. Đặt cạnh 40 năm số liệu, mức này còn rất xa các đỉnh 774,7% của năm 1986 hay 22,97% của năm 2008.
Nhưng nếu cả năm giữ quanh 4,5% như các dự báo, 2026 sẽ là năm lạm phát cao nhất kể từ năm 2013.
(Cập nhật ngày 22/10/2026, theo số liệu tháng 9/2026 của Cục Thống kê)
Bài viết tổng hợp số liệu chính thức của năm 2026 theo từng tháng, bảng tỷ lệ lạm phát Việt Nam qua các năm từ 1986 đến 2025 theo cả hai thước đo mà cơ quan thống kê công bố, các kịch bản cho cả năm 2026 và cách quy những con số này ra sức mua của đồng tiền

Tóm tắt nhanh
- Lạm phát 9 tháng 2026: CPI bình quân tăng 4,52%, lạm phát cơ bản tăng 4,26%. Tháng 9/2026, CPI tăng 5,08% so với cùng kỳ và 4,2% so với tháng 12/2025.
- Mục tiêu và dự báo: Quốc hội giao CPI bình quân năm 2026 khoảng 4,5%. Bộ Tài chính đưa hai kịch bản 4,5% và 4,8%; Ngân hàng Nhà nước dự báo 4,5–5%; ADB dự báo 4,3%.
- Bài toán quý IV: Theo tính toán của Chợ Giá, nếu giá chỉ đi ngang từ tháng 10 đến tháng 12, CPI cả năm đã khoảng 4,52%; muốn không vượt 4,5%, giá phải giảm nhẹ, khoảng 0,03% mỗi tháng.
- Năm 2025: CPI bình quân tăng 3,31%; tháng 12/2025 tăng 3,48% so với tháng 12/2024; lạm phát cơ bản tăng 3,21%.
- Qua các năm: Đỉnh 774,7% năm 1986 (tháng 12 so với tháng 12 năm trước); Hai đỉnh gần nhất là 22,97% (2008) và 18,58% (2011); Thấp nhất kể từ năm 2001 là 0,63% (2015), còn năm 2000 giá từng giảm.
- Quy ra tiền: Mặt bằng giá bình quân năm 2025 gần gấp đôi năm 2010, nghĩa là 100 triệu đồng của năm 2010 chỉ còn sức mua khoảng 51 triệu đồng.
Tỷ lệ lạm phát Việt Nam 2026 mới nhất: 4,52% sau 9 tháng
Ngày 03/10/2026, Cục Thống kê (Bộ Tài chính) công bố CPI tháng 9/2026 tăng 0,62% so với tháng trước, tăng 4,2% so với tháng 12/2025 và tăng 5,08% so với cùng kỳ năm 2025. Bình quân quý III, CPI tăng 4,8%; bình quân 9 tháng tăng 4,52%. Lạm phát cơ bản tháng 9 tăng 0,11% so với tháng trước và 4,45% so với cùng kỳ; bình quân 9 tháng tăng 4,26%.
Vì vậy câu hỏi “lạm phát năm 2026 là bao nhiêu” có ba câu trả lời đúng, tùy thước đo:
- 4,52% nếu hiểu là CPI bình quân từ đầu năm so với cùng kỳ. Đây là con số được đặt cạnh mục tiêu của Quốc hội và cũng là cách tính lạm phát cả năm.
- 5,08% nếu hiểu là giá tháng 9/2026 so với tháng 9/2025, cho biết “nhiệt độ” giá cả ở thời điểm hiện tại.
- 4,2% nếu hiểu là giá tháng 9 so với tháng 12/2025, tức mức tăng tích lũy từ đầu năm.
CPI 2026 theo từng tháng
| Tháng | CPI so với cùng kỳ năm trước (%) | CPI so với tháng trước (%) |
|---|---|---|
| 1/2026 | 2,53 | 0,05 |
| 2/2026 | 3,35 | 1,14 |
| 3/2026 | 4,65 | 1,23 |
| 4/2026 | 5,46 | 0,84 |
| 5/2026 | 5,60 | 0,29 |
| 6/2026 | 4,69 | −0,39 |
| 7/2026 | 4,45 | −0,12 |
| 8/2026 | 4,89 | 0,47 |
| 9/2026 | 5,08 | 0,62 |
Năm 2026 mở đầu bằng mức tăng thấp nhất năm: Tháng 1 chỉ cao hơn cùng kỳ 2,53%. Một phần là do lệch lịch Tết. Tết Ất Tỵ rơi vào cuối tháng 1/2025 nên giá tháng 1 năm ngoái đã được đẩy lên, còn Tết Bính Ngọ năm nay rơi vào giữa tháng 2/2026. Sang tháng 2, nhu cầu mua sắm, đi lại dịp Tết đẩy CPI tăng 1,14% so với tháng trước.
Bước ngoặt là tháng 3. Giá năng lượng thế giới tăng mạnh do xung đột ở Trung Đông, CPI tăng 1,23% chỉ trong một tháng, mức tăng theo tháng cao nhất của 9 tháng, và lần đầu vượt 4,5% so với cùng kỳ. Đà tăng kéo dài đến tháng 5, khi lạm phát so với cùng kỳ lên 5,60%, cao nhất từ đầu năm.
Tháng 6 và tháng 7, mặt bằng giá giảm lần lượt 0,39% và 0,12% so với tháng trước, kéo lạm phát so với cùng kỳ về 4,45%. Nhưng sang tháng 8 và tháng 9, giá xăng dầu trong nước tăng theo giá thế giới, cộng với học phí năm học mới, khiến CPI tăng trở lại 0,47% rồi 0,62%; lạm phát tháng 9 so với cùng kỳ lên 5,08%.
So với cùng kỳ những năm gần đây
| 9 tháng đầu năm | CPI bình quân (%) | Lạm phát cơ bản bình quân (%) |
|---|---|---|
| 2022 | 2,73 | 1,88 |
| 2023 | 3,16 | 4,49 |
| 2024 | 3,88 | 2,69 |
| 2025 | 3,27 | 3,19 |
| 2026 | 4,52 | 4,26 |
CPI bình quân 9 tháng năm 2026 cao nhất trong 5 năm và cao hơn cùng kỳ năm 2025 tới 1,25 điểm phần trăm. Lạm phát cơ bản, thước đo đã loại bỏ lương thực, thực phẩm tươi sống, năng lượng và giá dịch vụ y tế, giáo dục, cũng tăng thêm hơn 1 điểm phần trăm (từ 3,19% lên 4,26%), dù vẫn thấp hơn mức 4,49% của năm 2023. Nói cách khác, cú sốc giá năng lượng không còn khu trú ở cây xăng mà đã thấm dần sang giá nhiều hàng hóa, dịch vụ khác.
Vì sao lạm phát năm 2026 tăng nhanh?
Cả 11 nhóm hàng trong rổ CPI đều tăng giá so với cùng kỳ, nhưng mức đóng góp chênh lệch rất lớn. Ba nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống; nhà ở, điện, nước, chất đốt, vật liệu xây dựng; và giao thông góp 3,81 điểm phần trăm, khoảng 84% mức tăng 4,52% của CPI bình quân 9 tháng.
Năng lượng: Cú hích lớn nhất từ tháng 3
Bình quân 9 tháng, giá nhiên liệu tăng 10,89% so với cùng kỳ. Riêng tháng 9, nhóm giao thông cao hơn cùng kỳ 11,67% và góp 1,16 điểm phần trăm vào mức tăng 5,08% của CPI tháng đó. Giá bán lẻ xăng dầu trong nước được điều chỉnh định kỳ theo giá thế giới nên cú sốc truyền vào CPI rất nhanh, rồi lan tiếp sang cước vận tải, phí giao hàng và giá bữa ăn ngoài.
Diễn biến từng kỳ điều hành có thể theo dõi tại bảng giá xăng dầu hôm nay, mục dự báo giá xăng dầu và biểu đồ giá dầu thế giới của Chợ Giá.
Nhà ở, điện nước: Nhóm tăng giá nhanh nhất
Nhóm nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 6,68%, mức tăng cao nhất trong 11 nhóm, góp 1,52 điểm phần trăm. Vật liệu bảo dưỡng nhà ở tăng 13,07% do giá vật liệu xây dựng và nhu cầu xây dựng, sửa chữa nhà ở tăng; giá thuê nhà tăng 4,91%; điện sinh hoạt tăng 4,35% (xem biểu giá điện sinh hoạt hiện hành).
Ăn uống: tăng vừa phải nhưng góp nhiều nhất
Hàng ăn và dịch vụ ăn uống chỉ tăng 4,72% nhưng góp nhiều nhất, 1,69 điểm phần trăm, vì chiếm tỷ trọng lớn nhất trong chi tiêu của hộ gia đình. Thịt lợn tăng 4,46% (xem giá lợn hôm nay), gia cầm tăng 3,93%, ăn uống ngoài gia đình tăng 7,14% do chi phí đầu vào tăng.
Giáo dục tăng, y tế hạ nhiệt
Nhóm giáo dục tăng 3,35% do một số trường dân lập, tư thục và cơ sở dạy nghề điều chỉnh học phí năm học mới; chính sách miễn, giảm, hỗ trợ học phí ở các cơ sở công lập giúp mức tăng chung không cao. Ngược lại, thuốc và dịch vụ y tế chỉ tăng 1,12%, trong khi năm 2025 nhóm này tăng 13,07% và góp 0,61 điểm phần trăm, là một trong những động lực lớn nhất của CPI năm ngoái.
Cầu kéo: Tăng trưởng nóng, tín dụng mở rộng
Không chỉ chi phí đẩy, sức cầu năm nay cũng mạnh hơn. GDP 9 tháng ước tăng 9,01%; tín dụng toàn hệ thống đến 30/9 tăng khoảng 11,6% so với cuối năm 2025. Đại diện Cục Thống kê nhận định tín dụng và đầu tư mở rộng có thể tác động lên giá với độ trễ, thể hiện rõ hơn vào cuối năm và sang năm 2027.
Lạm phát cơ bản (4,26%) thấp hơn CPI chung (4,52%) vì những mặt hàng bị loại khỏi rổ tính lạm phát cơ bản như xăng dầu, gas, lương thực, thực phẩm tươi sống tăng giá nhanh hơn mặt bằng chung; Cục Thống kê xác định đây là nguyên nhân chủ yếu. Nhưng bản thân mức 4,26% cũng đã cao, nghĩa là phần lớn mức tăng của CPI vẫn đến từ các hàng hóa, dịch vụ còn lại trong rổ chứ không chỉ từ xăng dầu và thực phẩm.
Lạm phát cả năm 2026 có vượt mục tiêu 4,5%?
Mục tiêu và các dự báo
Nghị quyết 244/2025/QH15 về kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội năm 2026, được Quốc hội thông qua ngày 13/11/2025, đặt chỉ tiêu tốc độ tăng CPI bình quân khoảng 4,5%, cùng mục tiêu tăng trưởng GDP từ 10% trở lên. Sau 9 tháng, CPI đã ở mức 4,52%, nên các dự báo cho cả năm đều xoay quanh hoặc cao hơn mục tiêu:
| Đơn vị | Dự báo CPI bình quân năm 2026 | Thời điểm |
|---|---|---|
| Bộ Tài chính | Hai kịch bản: khoảng 4,5% và 4,8% | Tháng 10/2026 |
| Ngân hàng Nhà nước | 4,5–5% | Tháng 10/2026 |
| Các tổ chức quốc tế (Bộ Tài chính tổng hợp) | 4,2–5,5% | Tháng 10/2026 |
| Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) | 4,3% (nâng từ 4%) | 23/9/2026 |
Đầu tháng 9, hai kịch bản của Bộ Tài chính là 4,5% và 5%; đến tháng 10, kịch bản cao được hạ xuống 4,8%.
Bài toán quý IV: Giá phải gần như đứng yên
Lạm phát cả năm là bình quân của 12 tháng, nên kết quả 9 tháng đã “khóa” phần lớn con số cuối cùng. Chợ Giá dựng lại chỉ số giá theo tháng từ số liệu Cục Thống kê (lấy tháng 12/2025 bằng 100), dùng mức tăng của quý IV/2025 (0,20%, 0,45% và 0,19% mỗi tháng) làm gốc so sánh, rồi thử các nhịp giá khác nhau cho 3 tháng cuối năm:
| Nhịp CPI tháng 10 đến tháng 12/2026 (so với tháng trước) | CPI tháng 12/2026 so với cùng kỳ | CPI bình quân cả năm 2026 |
|---|---|---|
| Giảm 0,4% mỗi tháng | khoảng 3,0% | khoảng 4,30% |
| Giảm 0,2% mỗi tháng | khoảng 3,6% | khoảng 4,41% |
| Đi ngang (0%) | khoảng 4,2% | khoảng 4,52% |
| Tăng 0,3% mỗi tháng | khoảng 5,1% | khoảng 4,67% |
| Tăng 0,5% mỗi tháng (gần nhịp bình quân 9 tháng đầu năm) | khoảng 5,8% | khoảng 4,78% |
Từ bảng trên có thể rút ra ba điều:
- Muốn giữ đúng 4,5%, CPI quý IV phải gần như đứng yên, cụ thể là giảm khoảng 0,03% mỗi tháng. Chỉ cần giá đi ngang, cả năm đã lên khoảng 4,52%.
- Kịch bản 4,8% của Bộ Tài chính tương ứng với việc giá tiếp tục tăng khoảng 0,5% mỗi tháng, gần bằng nhịp bình quân 0,46%/tháng của 9 tháng đầu năm.
- Dự báo 4,3% của ADB, đưa ra khi mới có số liệu đến tháng 8, đòi hỏi giá giảm khoảng 0,4% mỗi tháng trong quý IV, trong khi cùng kỳ năm 2025 giá vẫn tăng 0,19–0,45% mỗi tháng.
Nếu cả năm ở mức 4,5% trở lên, 2026 sẽ là năm có lạm phát bình quân cao nhất kể từ năm 2013 (6,6%). Bảng trên là ước tính của Chợ Giá theo phương pháp đơn giản hóa, không phải số liệu chính thức; kết quả cuối cùng phụ thuộc vào giá xăng dầu, lương thực và các đợt điều chỉnh giá dịch vụ công trong quý IV.
Lực đẩy và lực đỡ những tháng cuối năm
Theo Bộ Tài chính và Cục Thống kê, các yếu tố có thể đẩy giá lên gồm:
- giá năng lượng, chi phí vận tải và logistics biến động theo căng thẳng địa chính trị;
- nhu cầu mua sắm, đi lại tăng theo mùa lễ, Tết;
- tỷ giá và giá nguyên liệu nhập khẩu truyền dẫn vào giá thành;
- độ trễ của tín dụng, đầu tư công và lộ trình điều chỉnh giá các dịch vụ do Nhà nước quản lý.
Ở chiều ngược lại, các chính sách miễn, giảm thuế, phí, điều hành tiền tệ linh hoạt và nguồn cung lương thực, thực phẩm ổn định giúp giảm áp lực. Ngày 15/10/2026, Công điện 70/CĐ-TTg do Phó Thủ tướng Nguyễn Văn Thắng ký yêu cầu các bộ, ngành, địa phương chủ động điều hành giá, kiểm soát CPI bình quân năm 2026 theo mục tiêu khoảng 4,5%.
Bảng tỷ lệ lạm phát Việt Nam qua các năm (1986–2025)
Tổng cục Thống kê, từ tháng 3/2025 là Cục Thống kê thuộc Bộ Tài chính, công bố tỷ lệ lạm phát theo hai cách:
- CPI bình quân năm so với năm trước: So mức giá trung bình của 12 tháng năm nay với 12 tháng năm trước. Đây là số liệu lạm phát năm chính thức và là cách Quốc hội giao chỉ tiêu những năm gần đây.
- CPI tháng 12 so với tháng 12 năm trước: Mức tăng giá trong vòng một năm tính đến cuối năm. Đây là thước đo được dùng nhất quán trong các tài liệu về giai đoạn trước năm 2002.
Hai con số của cùng một năm có thể chênh nhau rất xa. Năm 2020, CPI bình quân tăng 3,23% nhưng tháng 12 chỉ cao hơn tháng 12/2019 có 0,19%.
Số liệu 2008–2025 lấy theo thông cáo CPI cuối năm của cơ quan thống kê; 1996–2007 theo tổng hợp số liệu Tổng cục Thống kê công bố cuối năm 2007; 1994–1995 theo số liệu chính thức được hãng AFP dẫn năm 1997; 1986–1993 theo Niên giám thống kê, dẫn qua nghiên cứu của Võ Hùng Dũng (2009) và của Trần Võ Hùng Sơn, Châu Văn Thành (1998).
| Năm | CPI bình quân năm (%) | CPI tháng 12 so với tháng 12 năm trước (%) | Lạm phát cơ bản bình quân (%) | Ghi chú |
|---|---|---|---|---|
| 2026 (9 tháng) | 4,52 | chưa có | 4,26 | Tháng 9 so với cùng kỳ: 5,08% |
| 2025 | 3,31 | 3,48 | 3,21 | Nhà ở – điện nước, ăn uống, y tế góp nhiều nhất; giao thông giảm |
| 2024 | 3,63 | 2,94 | 2,71 | Cao nhất giai đoạn 2020–2025 |
| 2023 | 3,25 | 3,58 | 4,16 | Lạm phát cơ bản cao hơn CPI chung |
| 2022 | 3,15 | 4,55 | 2,59 | Giá năng lượng thế giới tăng mạnh |
| 2021 | 1,84 | 1,81 | 0,81 | Thấp nhất giai đoạn 2016–2025 |
| 2020 | 3,23 | 0,19 | 2,31 | Đại dịch Covid-19 |
| 2019 | 2,79 | 5,23 | 2,01 | Riêng tháng 12 tăng 1,4% so với tháng 11 |
| 2018 | 3,54 | 2,98 | 1,48 | |
| 2017 | 3,53 | 2,60 | 1,41 | |
| 2016 | 2,66 | 4,74 | 1,83 | |
| 2015 | 0,63 | 0,60 | 2,05 | Thấp nhất kể từ năm 2001 |
| 2014 | 4,09 | 1,84 | Giá dầu thế giới bắt đầu lao dốc | |
| 2013 | 6,6 | 6,04 | ||
| 2012 | 9,21 | 6,81 | Về một con số | |
| 2011 | 18,58 | 18,13 | Đỉnh thứ hai; Nghị quyết 11/NQ-CP | |
| 2010 | 9,19 | 11,75 | ||
| 2009 | 6,88 | 6,52 | Gói hỗ trợ lãi suất 4% | |
| 2008 | 22,97 | 19,89 | Tháng 12 so với tháng 12 cao nhất kể từ 1991 | |
| 2007 | 8,3 | 12,63 | Gia nhập WTO | |
| 2006 | 7,5 | 6,6 | ||
| 2005 | 8,3 | 8,4 | ||
| 2004 | 7,7 | 9,5 | ||
| 2003 | 3,1 | 3,0 | ||
| 2002 | 3,9 | 4,0 | ||
| 2001 | 0,8 | |||
| 2000 | −0,6 | Giảm phát | ||
| 1999 | 0,1 | |||
| 1998 | 9,2 | |||
| 1997 | 3,6 | |||
| 1996 | 4,5 | |||
| 1995 | 12,7 | |||
| 1994 | 14,4 | |||
| 1993 | 5,2 | |||
| 1992 | 17,5 | Về dưới 20% | ||
| 1991 | 67,5 | |||
| 1990 | 67,4 | Bật tăng trở lại | ||
| 1989 | 34,7 | Chương trình chống lạm phát | ||
| 1988 | 393,8 | |||
| 1987 | 223,1 | Chỉ số giá 323,1 (năm trước = 100) | ||
| 1986 | 774,7 | Đỉnh siêu lạm phát |
Ô để trống là năm không có số liệu cùng thước đo được công bố nhất quán.
40 năm lạm phát Việt Nam: Bảy giai đoạn và ba bài học
1986–1992: Từ siêu lạm phát đến chương trình chống lạm phát
Cuộc tổng điều chỉnh giá, lương, tiền năm 1985, với lần đổi tiền tháng 9/1985 (1 đồng mới đổi 10 đồng cũ), không chặn được đà tăng giá. Thâm hụt ngân sách được bù bằng phát hành tiền, cơ chế hai giá và bù giá vào lương làm giá cả tăng theo cấp số nhân: 774,7% năm 1986, 223,1% năm 1987 và 393,8% năm 1988, tính theo giá tháng 12 so với tháng 12 năm trước.
Năm 1989 là năm chuyển hướng: Nhà nước xóa bỏ phần lớn cơ chế hai giá, nâng lãi suất tiết kiệm cao hơn tốc độ trượt giá để hút tiền về ngân hàng, đưa tỷ giá chính thức về sát tỷ giá thị trường. Lạm phát giảm còn 34,7%. Giá bật tăng trở lại 67,4% năm 1990 và 67,5% năm 1991 khi viện trợ và thị trường Liên Xô, Đông Âu sụt giảm, trước khi về 17,5% năm 1992 và 5,2% năm 1993.
2007–2011: Hai đỉnh lạm phát trong năm năm
Việt Nam gia nhập WTO tháng 1/2007, vốn ngoại và tín dụng tăng mạnh. Giá tháng 12/2007 đã cao hơn tháng 12/2006 tới 12,63%. Năm 2008, giá dầu thô thế giới có lúc vượt 140 USD/thùng, lương thực lập đỉnh, CPI bình quân năm lên 22,97%, mức cao nhất kể từ đầu thập niên 1990.
Để chống suy giảm sau khủng hoảng tài chính toàn cầu, năm 2009 Chính phủ triển khai gói hỗ trợ lãi suất 4%. Tăng trưởng được giữ nhưng lạm phát quay lại: Tháng 12/2010 cao hơn cùng kỳ 11,75%, CPI bình quân năm 2011 lên 18,58%. Nghị quyết 11/NQ-CP ngày 24/02/2011 đặt kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô lên ưu tiên hàng đầu với chính sách tiền tệ chặt chẽ và cắt giảm đầu tư công. Năm 2012, lạm phát tháng 12 so với cùng kỳ còn 6,81%.
2012–2025: Hơn một thập kỷ lạm phát thấp
CPI bình quân giảm từ 9,21% năm 2012 xuống 6,6% năm 2013, 4,09% năm 2014 và 0,63% năm 2015, khi giá dầu thế giới lao dốc. Từ 2016 đến 2025, lạm phát bình quân năm dao động trong khoảng 1,84–3,63%, kể cả năm 2022 khi giá năng lượng thế giới tăng mạnh. Tính từ năm 2014, đã 12 năm liền lạm phát bình quân không vượt 4,1%, chuỗi năm lạm phát thấp dài nhất trong số liệu kể từ năm 1986.
Ba bài học từ 40 năm số liệu
- Lạm phát cao thường đến sau những năm tín dụng, tiền tệ tăng nóng: 1986–1988, 2007–2008 và 2010–2011 đều có chung điểm này.
- Cú sốc giá thế giới truyền vào CPI rất nhanh, vì xăng dầu và lương thực, thực phẩm chiếm tỷ trọng lớn trong chi tiêu: năm 2008 và năm 2026 là hai ví dụ rõ nhất.
- Lãi suất thực dương và kỷ luật tài khóa là công cụ hãm phanh hiệu quả nhất, như năm 1989 và giai đoạn 2011–2012 cho thấy.
Đọc đúng số liệu lạm phát: Bốn nhầm lẫn thường gặp
Lấy số tháng 12 thay cho số bình quân năm
Năm 2019, CPI bình quân tăng 2,79% nhưng tháng 12 cao hơn tháng 12/2018 tới 5,23%. Năm 2007 là 8,3% và 12,63%. Khi so với mục tiêu của Quốc hội hay so giữa các năm, cần dùng cùng một thước đo, thường là CPI bình quân.
Nhầm “CPI 9 tháng” với “CPI tháng 9”
“CPI 9 tháng tăng 4,52%” là bình quân 9 tháng đầu năm so với cùng kỳ; “CPI tháng 9 tăng 5,08%” là riêng tháng 9 so với tháng 9 năm trước. Hai con số đo hai thứ khác nhau.
Nhầm chỉ số giá với tỷ lệ lạm phát
Tỷ lệ lạm phát được tính từ chỉ số giá theo công thức:
Tỷ lệ lạm phát (%) = (Chỉ số giá kỳ báo cáo − Chỉ số giá kỳ gốc) ÷ Chỉ số giá kỳ gốc × 100
Khi kỳ gốc bằng 100, chỉ số 104,52 nghĩa là lạm phát 4,52%. Nhiều tài liệu ghi lạm phát năm 1987 là 323,1%, thực ra đó là chỉ số giá (năm trước bằng 100); mức tăng tương ứng là 223,1%.
Trộn số liệu Cục Thống kê với World Bank, IMF
Các tổ chức quốc tế tự tính lại từ chuỗi chỉ số giá nên con số có thể lệch 0,1–0,2 điểm phần trăm so với số công bố trong nước. Năm 2008, cơ quan thống kê công bố 22,97% còn chuỗi của IMF là 23,12%; năm 2011 là 18,58% so với 18,68%; năm 2012 là 9,21% so với 9,09%. Một bảng số liệu đáng tin cần ghi rõ nguồn và thước đo cho từng cột.
Lạm phát cơ bản là gì?
Lạm phát cơ bản là mức tăng CPI sau khi loại trừ lương thực, thực phẩm tươi sống, năng lượng và các mặt hàng do Nhà nước quản lý giá gồm dịch vụ y tế, dịch vụ giáo dục. Vì bỏ đi những nhóm dễ biến động bởi thời tiết, giá thế giới hay quyết định hành chính, chỉ số này phản ánh xu hướng giá dài hạn và sức cầu trong nền kinh tế. Khi lạm phát cơ bản thấp hơn CPI chung, như năm 2026, các mặt hàng bị loại trừ (năng lượng, thực phẩm tươi sống) đang tăng giá nhanh hơn phần còn lại của rổ hàng; khi cao hơn, như năm 2023, áp lực nằm nhiều hơn ở các hàng hóa, dịch vụ cốt lõi.
Lạm phát quy ra tiền: sức mua của bạn mất bao nhiêu?
Giá cả hôm nay so với 5, 10, 20 năm trước
Nhân dồn các tỷ lệ CPI bình quân năm trong bảng, có thể biết mặt bằng giá năm 2025 cao gấp bao nhiêu lần một năm bất kỳ:
| So sánh | Mặt bằng giá năm 2025 so với năm gốc | 100 triệu đồng của năm gốc còn sức mua (theo giá 2025) |
|---|---|---|
| 2020 đến 2025 | gấp 1,16 lần (+16,1%) | khoảng 86,1 triệu đồng |
| 2015 đến 2025 | gấp 1,36 lần (+35,6%) | khoảng 73,8 triệu đồng |
| 2010 đến 2025 | gấp 1,96 lần (+96,1%) | khoảng 51,0 triệu đồng |
| 2005 đến 2025 | gấp 3,28 lần (+227,6%) | khoảng 30,5 triệu đồng |
Một cách nhớ nhanh: với lạm phát 4,5% mỗi năm, sức mua của tiền mặt mất một nửa sau khoảng 15,7 năm; với mức 3,31% như năm 2025 là khoảng 21 năm. 100 triệu đồng cất giữ 10 năm với lạm phát 4,5% mỗi năm chỉ còn sức mua khoảng 64 triệu đồng.
Lãi suất thực của sổ tiết kiệm
Lãi suất thực cho biết tiền gửi có thật sự sinh lời sau khi trừ trượt giá hay không:
Lãi suất thực = (1 + lãi suất danh nghĩa) ÷ (1 + tỷ lệ lạm phát) − 1
Đầu tháng 10/2026, kỳ hạn 12 tháng tại nhóm Big4 khoảng 5,9%/năm; mức cao nhất cho khách hàng thông thường là 7,8%/năm khi gửi trực tuyến tại ACB. Đặt cạnh hai kịch bản lạm phát của Bộ Tài chính:
| Lãi suất 12 tháng | Lãi suất thực nếu lạm phát 4,5% | Lãi suất thực nếu lạm phát 4,8% |
|---|---|---|
| 5,9%/năm (nhóm Big4) | khoảng 1,34% | khoảng 1,05% |
| 7,8%/năm (trực tuyến tại ACB, cao nhất cho khách thông thường) | khoảng 3,16% | khoảng 2,86% |
Sổ tiết kiệm vẫn giữ được sức mua, nhưng phần “lãi thật” mỏng hơn nhiều so với con số ghi trên sổ. Để biết khoản gửi của mình sinh bao nhiêu tiền, bạn có thể nhập số tiền, kỳ hạn và lãi suất vào bảng tính lãi tiết kiệm trên Công Cụ Tính, rồi đối chiếu với mức trượt giá ở trên; biểu lãi suất từng ngân hàng được cập nhật tại trang lãi suất ngân hàng của Chợ Giá.
Người vay, người giữ vàng và USD
Với người vay, lạm phát làm giảm giá trị thực của khoản nợ, nhưng hiếm khi đi một mình: lãi suất cho vay bình quân tháng 8/2026 khoảng 10,7%/năm, cao hơn khoảng 3 điểm phần trăm so với các khoản vay một năm trước. Người đang vay lãi suất thả nổi nên thử trước kịch bản lãi tăng thêm 2–3 điểm phần trăm, chẳng hạn bằng cách lập lịch trả nợ trên Công Cụ Tính, để biết số tiền phải trả mỗi tháng có còn trong khả năng.
Bình quân 9 tháng năm 2026, chỉ số giá vàng trong nước tăng 42,67% so với cùng kỳ, trong khi chỉ số giá USD chỉ tăng 1,01%. Vàng vượt xa lạm phát nhưng dao động mạnh theo giá thế giới; USD gần như đứng yên. Diễn biến hằng ngày có tại trang giá vàng và tỷ giá USD của Chợ Giá. Mọi lựa chọn giữ tiền nên tính bằng lợi suất thực sau lạm phát, không chỉ mức tăng danh nghĩa.
Bài viết mang tính thông tin, không phải khuyến nghị đầu tư. Bảng kịch bản quý IV, phép tính sức mua và lãi suất thực là ước tính của Chợ Giá dựa trên số liệu chính thức.
















