Tình trạng thiếu giáo viên vẫn chưa được giải quyết dù các địa phương đã tuyển gần 15.000 người trong năm học 2025-2026. Đáng chú ý, hàng chục nghìn biên chế giáo viên đã được giao nhưng chưa tuyển dụng được, cho thấy bài toán nhân lực ngành giáo dục không chỉ nằm ở số lượng mà còn ở phân bổ, cơ chế tuyển dụng và khả năng thu hút giáo viên.
Gần 1,3 triệu giáo viên nhưng vẫn thiếu hơn 100.000 người
Tại phiên giải trình về việc thực hiện chính sách, pháp luật trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo vào sáng ngày 20/9, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo – Hoàng Minh Sơn cho biết, đến tháng 6/2026, cả nước vẫn thiếu khoảng 104.500 giáo viên mầm non và phổ thông so với định mức. Trong đó, bậc THCS thiếu nhiều nhất với gần 42.500 giáo viên.
Tình trạng thiếu giáo viên diễn ra dù ngành giáo dục đã đẩy mạnh tuyển dụng trong năm học 2025-2026. Tính đến tháng 6/2026, các địa phương đã tuyển 14.994 giáo viên cho các cơ sở giáo dục mầm non và phổ thông công lập, gồm 3.116 giáo viên mầm non, 5.241 giáo viên tiểu học, 4.524 giáo viên THCS và 2.113 giáo viên THPT.
Theo báo cáo của Bộ Giáo dục và Đào tạo, đến hết năm học 2025-2026, cả nước có 1.277.297 giáo viên mầm non và phổ thông, tăng 3.942 người so với năm học trước. Trong đó, khu vực công lập có 1.119.803 giáo viên, còn các cơ sở giáo dục ngoài công lập có 157.494 người.
Dù đã tuyển thêm gần 15.000 giáo viên trong năm học vừa qua, số lượng này vẫn chưa đủ đáp ứng nhu cầu thực tế. Bộ Giáo dục và Đào tạo xác định cả nước còn thiếu khoảng 104.500 giáo viên so với định mức, đồng thời tồn tại tình trạng thừa, thiếu cục bộ giữa các môn học, cấp học và địa phương.
Đáng chú ý, THCS là cấp học thiếu giáo viên nhiều nhất, với gần 42.500 người. Đây cũng là cấp học đang có sự thay đổi đáng kể về cơ cấu môn học và yêu cầu triển khai Chương trình giáo dục phổ thông 2018, khiến áp lực về nhân lực tập trung rõ nét hơn.

Vì sao thiếu giáo viên nhưng vẫn có biên chế chưa tuyển?
Một nghịch lý được đặt ra tại phiên giải trình là trong khi toàn ngành vẫn thiếu hơn 100.000 giáo viên so với định mức, nhiều địa phương lại chưa tuyển đủ số biên chế đã được giao.
Theo thông tin công bố tại phiên giải trình, tính đến cuối tháng 5, có hơn 40.000 vị trí giáo viên đã được phân bổ nhưng chưa được tuyển dụng. Một số thông tin sau phiên giải trình cho biết số biên chế chưa tuyển còn khoảng 46.000 vị trí.
Thực tế này cho thấy bài toán thiếu giáo viên không đơn thuần nằm ở việc thiếu nhân lực, mà còn liên quan đến khả năng tuyển đúng người, đúng môn học, đúng địa bàn và đúng thời điểm.
Theo Bộ trưởng Hoàng Minh Sơn cho rằng, tình trạng thiếu và mất cân đối đội ngũ giáo viên xuất phát từ nhiều nguyên nhân. Trong đó, công tác quy hoạch, dự báo nhu cầu giáo viên tại một số địa phương chưa theo kịp sự thay đổi về số lượng học sinh, quy mô trường lớp và xu hướng dịch chuyển dân cư.
Bên cạnh đó, quy trình phân bổ biên chế và tuyển dụng tại một số nơi còn mất nhiều thời gian, trong khi nguồn tuyển đối với một số môn học và địa bàn vẫn hạn chế.
Và điều kiện tài chính cũng là một vấn đề. Một số địa phương gặp khó khăn trong việc bảo đảm kinh phí để ký hợp đồng lao động, thanh toán tiền làm thêm giờ, cũng như triển khai các chính sách hỗ trợ, thu hút và giữ chân giáo viên.
Vì vậy, việc được giao chỉ tiêu biên chế mới chỉ là một phần của bài toán nhân lực ngành giáo dục. Để một chỉ tiêu biên chế thực sự trở thành một giáo viên đứng lớp, các địa phương còn phải giải quyết đồng thời nhiều vấn đề về nguồn tuyển, cơ cấu môn học, địa bàn và điều kiện tài chính.
Điều phối giáo viên thay vì chỉ tăng biên chế
Theo Bộ trưởng Hoàng Minh Sơn, phát triển đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục là một trong những điều kiện then chốt để bảo đảm chất lượng giáo dục và triển khai Chương trình giáo dục phổ thông 2018.
Trước thực tế thiếu, thừa giáo viên không đồng đều giữa các địa phương, môn học và cấp học, Bộ GD&ĐT đang thúc đẩy việc điều phối, luân chuyển giáo viên giữa các địa phương và trường học, đặc biệt trong bối cảnh tổ chức bộ máy hành chính được sắp xếp lại.
Cùng với đó, một số cán bộ quản lý giáo dục sau khi tái cơ cấu được bố trí trở lại công việc giảng dạy trực tiếp, qua đó bổ sung thêm nguồn lực cho hoạt động đứng lớp.
Bộ trưởng Hoàng Minh Sơn cũng cho biết việc điều chuyển giáo viên cũng có thể được thực hiện linh hoạt hơn. Theo thông tin nêu tại phiên giải trình, thay vì phải công tác tại vùng khó khăn trong thời gian 5-10 năm mới có thể trở về, phương án điều động trong khoảng 1-2 năm đang được đặt ra. Cách làm này nhằm vừa tăng nguồn lực cho những địa bàn khó khăn, vừa tạo điều kiện để giáo viên ổn định công tác lâu dài.
Đây cũng được xem là một hướng giải quyết tình trạng mất cân đối nhân lực trong ngành giáo dục, khi có nơi thiếu giáo viên nhưng nơi khác có thể dư nhân lực; một số môn học thiếu giáo viên trong khi các môn khác lại có nguồn nhân lực.
Từ thiếu giáo viên đến nhu cầu nhân lực STEM
Tuyển dụng chỉ là một phần trong bài toán nhân lực của ngành giáo dục. Để giải quyết tình trạng thiếu giáo viên một cách bền vững, chính sách tiền lương, phụ cấp, điều kiện làm việc và cơ hội phát triển nghề nghiệp cũng đóng vai trò quan trọng.
Bộ GD&ĐT cho biết đã tham mưu và ban hành nhiều văn bản nhằm hoàn thiện hành lang pháp lý liên quan đến tuyển dụng, sử dụng, quản lý, chế độ làm việc, chuẩn nghề nghiệp, bổ nhiệm, xếp lương, thu hút và trọng dụng nhà giáo.
Một số chính sách vẫn đang được xây dựng, trong đó có tiền lương, phụ cấp và chính sách hỗ trợ đối với nhà giáo. Theo báo cáo tại phiên giải trình, Bộ GD&ĐT đã xây dựng hồ sơ dự thảo nghị định về nhóm chính sách này, trình Chính phủ và tiếp tục rà soát, hoàn thiện.
Bên cạnh đó, Bộ GD&ĐT cũng sẽ phối hợp với Bộ Nội vụ rà soát nhu cầu biên chế giáo viên trong giai đoạn 2027-2031. Kết quả rà soát sẽ là cơ sở để điều chỉnh việc phân bổ và tuyển dụng giáo viên trong những năm tới.
Trong khi các trường phổ thông vẫn đối mặt với bài toán thiếu giáo viên, giáo dục đại học cũng đứng trước yêu cầu thay đổi nhanh chóng để đáp ứng nhu cầu nhân lực mới của nền kinh tế. Một trong những lĩnh vực được chú trọng chính là STEM, gồm khoa học, công nghệ, kỹ thuật và toán học.
Theo báo cáo về triển khai Nghị quyết 71, tỷ lệ sinh viên đại học nhập học các ngành STEM trong năm 2026 đạt 33,6%, tiến gần mục tiêu 35%. Được biết, có khoảng 110.000 sinh viên đang theo học các ngành kỹ thuật then chốt và công nghệ chiến lược; 90 chương trình đào tạo tài năng kỹ sư, thạc sĩ STEM đã được triển khai tại 23 cơ sở giáo dục đại học.
Cùng với việc mở rộng quy mô đào tạo STEM, các trường đại học cũng đang điều chỉnh chương trình theo hướng tăng những ngành gắn với nhu cầu phát triển công nghệ và hạ tầng như vi mạch bán dẫn, trí tuệ nhân tạo, khoa học dữ liệu, công nghệ hạt nhân, đường sắt tốc độ cao, công nghệ số và năng lượng mới.
Dù vậy, tăng số lượng sinh viên STEM mới chỉ là bước đầu. Một số phân tích về giáo dục đại học chỉ ra rằng để biến nguồn tuyển này thành đội ngũ kỹ sư và chuyên gia chất lượng cao, các trường vẫn phải giải quyết nhiều vấn đề như thiếu giảng viên chuyên sâu, phòng thí nghiệm, hạ tầng tính toán và sự gắn kết giữa đào tạo với doanh nghiệp.
Đổi mới thi tốt nghiệp THPT, tăng giám sát và chống gian lận
Một nội dung khác được Bộ GD&ĐT đề cập tại phiên giải trình là đổi mới kỳ thi tốt nghiệp THPT. Bộ cho biết sẽ duy trì mô hình kỳ thi hiện hành, đồng thời từng bước triển khai thi trên máy tính theo lộ trình phù hợp với điều kiện cơ sở vật chất của từng địa phương.
Theo Bộ GD&ĐT, kỳ thi tốt nghiệp THPT hiện thực hiện nhiều mục đích, gồm đánh giá kết quả học tập để công nhận tốt nghiệp, cung cấp dữ liệu phục vụ đánh giá chất lượng giáo dục và tạo nguồn dữ liệu để các cơ sở giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp có thể sử dụng trong tuyển sinh.
Bộ nhấn mạnh kỳ thi tốt nghiệp THPT không phải là kỳ thi tuyển sinh đại học bắt buộc. Các cơ sở đào tạo có quyền quyết định sử dụng kết quả kỳ thi hoặc lựa chọn phương thức tuyển sinh khác theo quy định.
Việc chuyển dần sang thi trên máy tính được kỳ vọng tạo điều kiện phát triển ngân hàng câu hỏi chuẩn hóa, đồng thời tăng khả năng ứng dụng công nghệ trong giám sát, bảo mật, phân tích dữ liệu và phòng, chống gian lận.
Song song với nghiên cứu hình thức thi mới, Bộ GD&ĐT cho biết sẽ tiếp tục tăng cường tính độc lập trong công tác kiểm tra, giám sát. Một số giải pháp được đặt ra gồm nghiên cứu cơ chế kiểm tra chéo, tăng cường camera và thiết bị giám sát điện tử, đồng thời kiểm soát chặt việc sử dụng các thiết bị công nghệ trái phép trong phòng thi.
Các trường hợp vi phạm sẽ bị xử lý nhằm đảm bảo kỷ luật, an toàn và tính khách quan của kỳ thi.
Vì vậy, việc ứng dụng công nghệ trong thi cử không chỉ dừng ở thay đổi từ hình thức làm bài trên giấy sang máy tính. Khi được triển khai đầy đủ, hệ thống mới còn có thể tạo ra nguồn dữ liệu phục vụ phân tích chất lượng đề thi, kết quả học tập và công tác quản lý giáo dục.
Bài toán lớn của ngành giáo dục: Từ “đủ người” đến “đúng người”
Con số 104.500 giáo viên còn thiếu đã cho thấy áp lực nhân lực của ngành giáo dục vẫn rất lớn, dù quy mô đội ngũ hiện đã vượt 1,27 triệu người.
Điều đáng chú ý chính là khoảng cách giữa nhu cầu và nguồn nhân lực không phân bố đồng đều. Có địa phương thiếu giáo viên nhưng khó tuyển, có môn học thiếu nguồn ứng viên, trong khi ở một số nơi khác, cơ cấu nhân lực có thể chưa phù hợp với nhu cầu thực tế.
Chính vì vậy, giải quyết bài toán này không chỉ phụ thuộc vào việc bổ sung thêm biên chế. Ngành giáo dục còn phải đồng thời cải thiện công tác dự báo nhu cầu, phân bổ và tuyển dụng nhân lực, tăng cường luân chuyển, cũng như hoàn thiện chính sách tiền lương và các điều kiện để giữ chân giáo viên.
Trong giai đoạn tới, khi Chương trình giáo dục phổ thông 2018 tiếp tục được triển khai đầy đủ và nhu cầu nhân lực công nghệ cao ngày càng tăng, chất lượng đội ngũ giáo viên và giảng viên sẽ tiếp tục là một trong những yếu tố quan trọng đối với việc thực hiện các mục tiêu cải cách giáo dục.
Việc Bộ GD&ĐT rà soát nhu cầu biên chế cho giai đoạn 2027-2031 vì thế không chỉ là câu chuyện ngành giáo dục cần thêm bao nhiêu giáo viên, mà còn phải xác định rõ cần giáo viên ở đâu, dạy môn gì và làm thế nào để thu hút nhân lực đến đúng những nơi đang thiếu.














