Chợ giá – Thị trường vàng thế giới ngày 6/11 ghi nhận đà phục hồi mạnh lên mức 4.130 USD một ounce khi biến động sau bầu cử Mỹ làm suy yếu đồng USD và giá dầu thô. Giới đầu tư hiện dồn sự tập trung vào báo cáo việc làm nhằm tìm kiếm tín hiệu về lộ trình lãi suất của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ.
Diễn biến giá vàng thế giới 06/11/2026
Cập nhật vào sáng 06/11, kim loại quý giao dịch quanh ngưỡng 4.130 USD một ounce, tiệm cận mức cao nhất trong hai tuần qua. Sự nảy vọt này giúp thị trường nới rộng khoảng cách so với đáy thấp nhất từ đầu năm là 3.870 USD một ounce được thiết lập vào tuần trước.
Trong phiên giao dịch trước đó, giá vàng ghi nhận mức tăng vọt 3,64% chỉ trong một ngày. Cùng lúc đó, giá dầu thô WTI trên thị trường quốc tế lại lao dốc tới 8% do giới đầu tư đặt cược vào những thay đổi chính trị lớn tại Washington.

Kịch bản Quốc hội Mỹ chia rẽ sau kỳ bầu cử đã làm giảm bớt lo ngại về triển vọng tài khóa quốc gia. Việc thông qua các gói cắt giảm thuế hoặc chi tiêu mới trở nên khó khăn hơn, qua đó thúc đẩy lực mua trái phiếu Chính phủ Mỹ và kéo lợi suất giảm xuống, gây áp lực trực tiếp lên đồng USD.
Sự sụt giảm mạnh của giá dầu thô cũng giúp hạ nhiệt mối lo lạm phát trên toàn cầu. Những yếu tố này kết hợp lại đã kích hoạt dòng tiền quay trở lại các tài sản an toàn, tạo động lực bứt phá mạnh mẽ cho kim loại quý.
Dù vậy, áp lực bán đối với đồng USD, lợi suất trái phiếu và giá dầu đã có dấu hiệu chững lại vào phiên tiếp theo. Sự ổn định trở lại của các thị trường này dự báo sẽ kìm hãm bớt đà tăng quá nóng của giá vàng trong ngắn hạn.
Rào cản lớn nhất đối với kim loại quý hiện nay vẫn là triển vọng chính sách tiền tệ diều hâu (thắt chặt) của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed). Giá dầu dù giảm mạnh nhưng vẫn neo cao hơn thời điểm trước chiến sự, khiến rủi ro lạm phát tiềm ẩn chưa thể bị loại bỏ hoàn toàn.
Với cam kết đưa lạm phát về mức mục tiêu 2%, Fed được dự báo sẽ duy trì mặt bằng lãi suất cao trong thời gian dài hơn. Theo công cụ CME FedWatch, thị trường hiện đặt cược khoảng 79% khả năng cơ quan này sẽ tiếp tục nâng lãi suất trong cuộc họp tháng 12.
Môi trường lãi suất cao làm tăng chi phí cơ hội của việc nắm giữ vàng, vốn là tài sản không tạo ra lợi suất định kỳ. Điều này trực tiếp gây áp lực lên giá vàng mỗi khi kỳ vọng nâng lãi suất của Fed gia tăng.
Tâm điểm của giới đầu tư hiện chuyển hướng sang các dữ liệu thị trường lao động Mỹ sắp công bố. Số đơn xin trợ cấp thất nghiệp lần đầu và báo cáo bảng lương phi nông nghiệp sẽ là cơ sở quan trọng để Fed đánh giá sức khỏe kinh tế trước khi ra quyết định.
Về mặt kỹ thuật, giá vàng giao ngay vẫn nằm dưới các đường trung bình động trung và dài hạn. Đường trung bình động đơn giản (SMA) 21 ngày ở mức 4.077 USD hiện đóng vai trò là ngưỡng hỗ trợ gần nhất cho đà phục hồi của thị trường.
Động lực ngắn hạn đã có sự cải thiện khi chỉ số sức mạnh tương đối (RSI) tiến gần mốc 52 và đường MACD chuyển sang trạng thái tích cực. Tuy nhiên, các tín hiệu này mới chỉ phản ánh sức ép mua đang dần tích lũy chứ chưa thể đảo ngược hoàn toàn xu hướng giảm cấu trúc.
Thị trường sẽ đối mặt với vùng kháng cự mạnh tại đường SMA 100 ngày và 50 ngày quanh mức 4.203 đến 4.206 USD một ounce. Nếu vượt qua vùng này, mức cản tâm lý tiếp theo sẽ là đường SMA 200 ngày tại 4.468 USD một ounce.
Vàng từ lâu đã giữ vai trò là tài sản trú ẩn an toàn và công cụ phòng ngừa rủi ro lạm phát cũng như sự mất giá của tiền tệ. Các ngân hàng trung ương toàn cầu, đặc biệt tại các nền kinh tế mới nổi như Trung Quốc, Ấn Độ và Thổ Nhĩ Kỳ, vẫn đang đẩy mạnh tích trữ kim loại quý để gia tăng dự trữ quốc gia.
Tại thị trường Việt Nam, giá vàng miếng và vàng nhẫn thường diễn biến cùng chiều với biến động của giá thế giới. Tuy nhiên, mức chênh lệch giữa giá vàng trong nước và thế giới còn phụ thuộc vào tỷ giá USD/VND cũng như hạn ngạch cung ứng và chính sách quản lý thị trường của Ngân hàng Nhà nước.
Trong kịch bản báo cáo việc làm Mỹ vượt dự báo và Fed khẳng định tiếp tục tăng lãi suất trong tháng 12, đồng USD có thể phục hồi đà tăng. Khi đó, chi phí cơ hội nắm giữ tăng lên sẽ kéo giá vàng thế giới quay đầu kiểm tra lại vùng hỗ trợ 4.000 USD hoặc xa hơn là đáy 3.870 USD một ounce.
Ngược lại, nếu dữ liệu lao động suy yếu làm tăng khả năng Fed nới lỏng chính sách, đà suy giảm của đồng USD và lợi suất trái phiếu sẽ mở đường cho giá vàng bứt phá qua vùng kháng cự 4.206 USD. Điều này có thể kích hoạt dòng tiền kỹ thuật đẩy giá tiến sát ngưỡng 4.468 USD một ounce.
Diễn biến giá vàng trong nước ngày 06/11/2026
Hiện giá vàng trong nước ngày 06/11/2026 niêm yết như sau:
| Sản phẩm | Hôm nay (06-11-2026) | Hôm qua (05-11-2026) | ||
|---|---|---|---|---|
| Giá mua | Giá bán | Giá mua | Giá bán | |
| Bảo Tín Mạnh Hải - Bắc Ninh | 138.000 | 141.000 | - | - |
| Bảo Tín Mạnh Hải - Hà Nội | 138.000 | 141.000 | - | - |
| Bảo Tín Mạnh Hải - Hải Dương | 138.000 | 141.000 | - | - |
| Bảo Tín Minh Châu - Hà Nội | 136.500 | 141.000 | - | - |
| DOJI - Hà Nội | 138.000 | 141.000 | - | - |
| DOJI - TP. Hồ Chí Minh | 138.000 | 141.000 | - | - |
| DOJI - TP.Hồ Chí Minh | 138.000 | 141.000 | - | - |
| DOJI - Đà Nẵng | 138.000 | 141.000 | - | - |
| Mi Hồng - Bến Tre | 139.000 | 140.500 | - | - |
| Mi Hồng - Tiền Giang | 139.000 | 140.500 | - | - |
| Mi Hồng - TP. Hồ Chí Minh | 139.000 | 140.500 | - | - |
| Mi Hồng - TP.Hồ Chí Minh | 139.000 | 140.500 | - | - |
| Ngọc Thẩm - Cần Thơ | 136.500 | 140.000 | - | - |
| Ngọc Thẩm - Long Xuyên | 136.500 | 140.000 | - | - |
| Ngọc Thẩm - Miền Tây | 136.500 | 140.000 | - | - |
| Ngọc Thẩm - Mỹ Tho | 136.500 | 140.000 | - | - |
| Ngọc Thẩm - Sa Đéc | 136.500 | 140.000 | - | - |
| Ngọc Thẩm - Tân An | 136.500 | 140.000 | - | - |
| Ngọc Thẩm - TP. Hồ Chí Minh | 136.500 | 140.000 | - | - |
| Ngọc Thẩm - TP.Hồ Chí Minh | 136.500 | 140.000 | - | - |
| Ngọc Thẩm - Trà Vinh | 136.500 | 140.000 | - | - |
| Ngọc Thẩm - Vĩnh Long | 136.500 | 140.000 | - | - |
| Ngọc Thẩm - Đông Nam Bộ | 136.500 | 140.000 | - | - |
| Phú Quý - Hà Nội | 137.500 | 141.000 | - | - |
| PNJ - Hà Nội | 138.000 | 141.000 | - | - |
| PNJ - Miền Tây | 138.000 | 141.000 | - | - |
| PNJ - Tây Nguyên | 138.000 | 141.000 | - | - |
| PNJ - TP. Hồ Chí Minh | 138.000 | 141.000 | - | - |
| PNJ - TP.Hồ Chí Minh | 138.000 | 141.000 | - | - |
| PNJ - Đà Nẵng | 138.000 | 141.000 | - | - |
| PNJ - Đông Nam Bộ | 138.000 | 141.000 | - | - |
| SJC - Bạc Liêu | 138.000 | 141.000 | - | - |
| SJC - Biên Hòa | 138.000 | 141.000 | - | - |
| SJC - Cà Mau | 138.000 | 141.000 | - | - |
| SJC - Hạ Long | 138.000 | 141.000 | - | - |
| SJC - Hải Phòng | 138.000 | 141.000 | - | - |
| SJC - Huế | 138.000 | 141.000 | - | - |
| SJC - Miền Bắc | 138.000 | 141.000 | - | - |
| SJC - Miền Tây | 138.000 | 141.000 | - | - |
| SJC - Miền Trung | 138.000 | 141.000 | - | - |
| SJC - Nha Trang | 138.000 | 141.000 | - | - |
| SJC - Quảng Ngãi | 138.000 | 141.000 | - | - |
| SJC - TP. Hồ Chí Minh | 138.000 | 141.000 | - | - |
| SJC - TP.Hồ Chí Minh | 138.000 | 141.000 | - | - |
Quang Huy (theo FXStreet)













