Chợ giá – Thị trường kim loại quý thế giới bước vào phiên giao dịch cuối tuần (Thứ Sáu, 14/08) với nhịp phục hồi tích cực và đang hướng tới một tuần tăng trưởng. Lực đẩy chính đến từ sự suy yếu của đồng USD, sau khi hàng loạt dữ liệu lạm phát “chiều lòng” thị trường trong tuần này đã làm tăng thêm sức nặng cho kịch bản Cục Dự trữ Liên bang (Fed) sẽ giữ nguyên mặt bằng lãi suất vào tháng tới.

Diễn biến thị trường vàng thế giới 16/08/2026
Cập nhật vào phiên giao dịch cuối tuần, bảng điện tử ghi nhận sự khởi sắc vững chắc. Giá vàng giao ngay (Spot Gold) tăng 0,7%, đạt mức 4.379,95 USD/ounce. Trước đó ở phiên liền kề, kim loại quý này đã trượt giảm 1,3% do áp lực chốt lời sau khi chạm mức cao nhất kể từ ngày 5/6. Tính chung từ đầu tuần đến nay, giá vàng giao ngay vẫn duy trì mức tăng khoảng 0,9%. Giá vàng kỳ hạn Mỹ đóng cửa chốt phiên nhích thêm 0,4%, giao dịch ở ngưỡng 4.437,30 USD/ounce.
Trợ lực từ đồng bạc xanh và bức tranh vĩ mô “dễ thở”
Nguyên nhân trực tiếp hỗ trợ giá vàng trong phiên cuối tuần đến từ biến động trên thị trường ngoại hối. Chỉ số đồng USD (DXY) đã sụt giảm 0,3%, giúp các thỏi vàng được định giá bằng đồng bạc xanh trở nên rẻ hơn và hấp dẫn hơn đối với giới đầu tư nắm giữ các loại tiền tệ khác.
Ông Jim Wyckoff, chuyên gia phân tích thị trường tại American Gold Exchange, đánh giá: “Chỉ số đồng USD trượt giảm đang tạo ra một môi trường ngoại vi thân thiện, hỗ trợ đắc lực cho giá vàng ngày hôm nay.”
Bên cạnh đó, vàng tiếp tục được củng cố bởi sự suy giảm bất ngờ của báo cáo việc làm phi nông nghiệp (NFP) tháng 7 và các số liệu lạm phát diễn biến đúng như kỳ vọng. Sự kết hợp này đã làm giảm đáng kể khả năng Fed phải thắt chặt chính sách. Hiện tại, phần lớn các nhà phân tích đều tin rằng ngân hàng trung ương sẽ duy trì mức lãi suất mục tiêu trong phạm vi 3,50% – 3,75%.
Dữ liệu từ công cụ CME FedWatch cho thấy, thị trường hiện chỉ định giá 33% cơ hội xảy ra một đợt tăng lãi suất vào tháng 9, sụt giảm mạnh so với mức 55% ghi nhận ở tuần trước.
Trong một bản ghi chú gửi tới khách hàng, ngân hàng Commerzbank nhận định: “Vì chúng tôi kỳ vọng Fed sẽ không tăng lãi suất, giá vàng theo đó vẫn còn nhiều dư địa để tiếp tục bứt phá lên cao hơn nữa.” Việc giữ nền lãi suất thấp luôn là môi trường thuận lợi để hỗ trợ cho một tài sản không sinh lời như vàng.
Rủi ro rình rập từ giá dầu và “chảo lửa” Trung Đông
Dù bức tranh vĩ mô đang ủng hộ vàng, những rủi ro gián tiếp từ mặt trận địa chính trị vẫn khiến giới đầu tư phải e dè. Lưu thông qua eo biển Hormuz dường như đã rơi vào trạng thái đình trệ hoàn toàn sau khi có thêm hai tàu chở hàng bị tấn công, đồng thời Mỹ tuyên bố có thể duy trì lệnh phong tỏa hải quân đối với Iran một cách vô thời hạn.
Những diễn biến căng thẳng này đang đẩy giá dầu hướng tới một tuần tăng giá rực rỡ. Tuy nhiên, chuyên gia Jim Wyckoff cảnh báo về “tác dụng phụ” của năng lượng lên thị trường kim loại quý: “Nếu giá dầu tiếp tục leo thang, đó sẽ là một yếu tố gây bất lợi (bearish) cho thị trường kim loại. Bởi lẽ, chi phí năng lượng cao sẽ tiếp tay cho lạm phát bùng phát trở lại, từ đó thúc đẩy các ngân hàng trung ương phải hành động bằng cách tăng lãi suất.”
Ở một diễn biến khác trên thị trường vật chất, mức chiết khấu giá vàng tại thị trường Ấn Độ đã nới rộng lên mức cao nhất trong hơn 2 tháng qua, cho thấy lực cầu mua vàng trang sức tại quốc gia tỷ dân này đang chững lại.
Diễn biến nhóm kim loại quý công nghiệp
Trái ngược với sự phân hóa ở các phiên trước, toàn bộ nhóm kim loại quý công nghiệp đều lấy lại sắc xanh trong phiên giao dịch cuối tuần: Giá bạc giao ngay tăng 0,7%, cán mốc 64,88 USD/ounce. Giá bạch kim (Platinum) bứt phá mạnh mẽ 1,8%, giao dịch ở mức 1.746,97 USD/ounce. Giá Palladium phục hồi 1,1%, vươn lên ngưỡng 1.320,93 USD/ounce.
Tính chung cả tuần, bạc và bạch kim đã sẵn sàng để ghi nhận một tuần giao dịch mang lợi nhuận dương, trong khi Palladium dù phục hồi trong phiên cuối tuần nhưng vẫn phải đối mặt với một tuần suy giảm chung cuộc.
Diễn biến giá vàng trong nước ngày 16/08/2026
Hiện giá vàng trong nước ngày 16/08/2026 niêm yết như sau:
| Sản phẩm | Hôm nay (17-08-2026) | Hôm qua (16-08-2026) | ||
|---|---|---|---|---|
| Giá mua | Giá bán | Giá mua | Giá bán | |
| Bảo Tín Mạnh Hải - Bắc Ninh | 140.300 | 143.300 | - | - |
| Bảo Tín Mạnh Hải - Hà Nội | 140.300 | 143.300 | - | - |
| Bảo Tín Mạnh Hải - Hải Dương | 140.300 | 143.300 | - | - |
| Bảo Tín Minh Châu - Hà Nội | 140.200 | 143.300 | - | - |
| DOJI - Hà Nội | 140.300 | 143.300 | - | - |
| DOJI - TP. Hồ Chí Minh | 140.300 | 143.300 | - | - |
| DOJI - Đà Nẵng | 140.300 | 143.300 | - | - |
| Mi Hồng - Bến Tre | 140.500 | 142.000 | - | - |
| Mi Hồng - Tiền Giang | 140.500 | 142.000 | - | - |
| Mi Hồng - TP. Hồ Chí Minh | 140.500 | 142.000 | - | - |
| Ngọc Thẩm - Cần Thơ | 139.000 | 142.500 | - | - |
| Ngọc Thẩm - Long Xuyên | 139.000 | 142.500 | - | - |
| Ngọc Thẩm - Miền Tây | 139.000 | 142.500 | - | - |
| Ngọc Thẩm - Mỹ Tho | 139.000 | 142.500 | - | - |
| Ngọc Thẩm - Sa Đéc | 139.000 | 142.500 | - | - |
| Ngọc Thẩm - Tân An | 139.000 | 142.500 | - | - |
| Ngọc Thẩm - TP. Hồ Chí Minh | 139.000 | 142.500 | - | - |
| Ngọc Thẩm - Trà Vinh | 139.000 | 142.500 | - | - |
| Ngọc Thẩm - Vĩnh Long | 139.000 | 142.500 | - | - |
| Ngọc Thẩm - Đông Nam Bộ | 139.000 | 142.500 | - | - |
| Phú Quý - Hà Nội | 140.300 | 143.300 | - | - |
| PNJ - Hà Nội | 140.300 | 143.300 | - | - |
| PNJ - Miền Tây | 140.300 | 143.300 | - | - |
| PNJ - Tây Nguyên | 140.300 | 143.300 | - | - |
| PNJ - TP. Hồ Chí Minh | 140.300 | 143.300 | - | - |
| PNJ - Đà Nẵng | 140.300 | 143.300 | - | - |
| PNJ - Đông Nam Bộ | 140.300 | 143.300 | - | - |
| SJC - Bạc Liêu | 140.300 | 143.300 | - | - |
| SJC - Biên Hòa | 140.300 | 143.300 | - | - |
| SJC - Cà Mau | 140.300 | 143.300 | - | - |
| SJC - Hạ Long | 140.300 | 143.300 | - | - |
| SJC - Hải Phòng | 140.300 | 143.300 | - | - |
| SJC - Huế | 140.300 | 143.300 | - | - |
| SJC - Miền Bắc | 140.300 | 143.300 | - | - |
| SJC - Miền Tây | 140.300 | 143.300 | - | - |
| SJC - Miền Trung | 140.300 | 143.300 | - | - |
| SJC - Nha Trang | 140.300 | 143.300 | - | - |
| SJC - Quảng Ngãi | 140.300 | 143.300 | - | - |
| SJC - TP. Hồ Chí Minh | 140.300 | 143.300 | - | - |






