Chợ giá – Thị trường kim loại quý thế giới trong phiên giao dịch ngày Thứ Ba ghi nhận nhịp điều chỉnh giảm nhẹ. Dù vậy, giá vàng thế giới vẫn neo gần mức đỉnh hơn 2 tháng qua khi giới đầu tư tỏ ra thận trọng, nín thở chờ đợi các số liệu lạm phát quan trọng của Mỹ – yếu tố mang tính quyết định đến lộ trình chính sách tiền tệ của Cục Dự trữ Liên bang (Fed).

Diễn biến thị trường vàng thế giới 12/08/2026
Cập nhật vào sáng 12/08, áp lực chốt lời đã xuất hiện trên bảng điện tử: Giá vàng giao ngay (Spot Gold) giảm 0,3%, lùi về mức 4.376,31 USD/ounce. Trước đó trong cùng phiên, kim loại quý này đã vọt lên chạm mốc 4.434,84 USD/ounce – mức cao nhất kể từ ngày 5/6 – trong nỗ lực bứt phá lên trên đường trung bình động 100 ngày (hiện đang ở ngưỡng 4.387,92 USD/ounce). Giá vàng kỳ hạn Mỹ đóng cửa chốt phiên nhích tăng khoảng 0,5%, neo vững tại mức 4.441,10 USD/ounce.
Thước đo” lạm phát CPI và dư âm từ báo cáo việc làm
Nhận định về diễn biến thị trường, ông Peter Grant, Phó Chủ tịch kiêm Chiến lược gia kim loại cấp cao tại Zaner Metals, cho biết: “Thị trường đang hướng tới dữ liệu lạm phát tuần này để tìm kiếm sự xác nhận rằng lạm phát vẫn nằm trong tầm kiểm soát.” Ông cũng nhấn mạnh thêm rằng, sự hạ nhiệt của chỉ số CPI (theo năm) sẽ tiếp tục là yếu tố hỗ trợ tích cực cho đà tăng của giá vàng.
Báo cáo Chỉ số Giá tiêu dùng (CPI) công bố vào Thứ Tư và Chỉ số Giá nhà sản xuất (PPI) vào Thứ Năm được đánh giá là sẽ định hình lại kỳ vọng chính sách tiền tệ. Trước đó vào Thứ Sáu tuần trước, báo cáo việc làm tháng 7 yếu kém của Mỹ đã khiến thị trường giảm bớt các khoản đặt cược vào khả năng Fed nâng lãi suất trong tháng tới, qua đó kích hoạt đợt bứt phá vọt tăng tới 2,4% trong một ngày của giá vàng.
Chuyên gia Peter Grant đánh giá thêm: “Vàng vẫn đang nhận được lực mua tương đối tốt sau sự thất vọng từ dữ liệu việc làm tuần trước – yếu tố đã làm xói mòn kỳ vọng về một đợt tăng lãi suất vào tháng 9.”
Tín hiệu “diều hâu” từ Fed và sức ép địa chính trị
Mặc dù kỳ vọng thắt chặt tiền tệ đã giảm bớt, dữ liệu từ công cụ CME FedWatch cho thấy các nhà giao dịch hiện vẫn đang định giá có khoảng 50% khả năng Fed sẽ tăng lãi suất vào tháng 9, và xác suất này lên tới 79% đối với cuộc họp tháng 12.
Lập trường thắt chặt cũng vừa được củng cố bởi giới chức Fed. Vào hôm Thứ Hai, Chủ tịch Ngân hàng Dự trữ Liên bang chi nhánh Cleveland, bà Beth Hammack, nhận định rằng đây là thời điểm thích hợp để bắt đầu tăng lãi suất một cách từ từ, nhằm tránh nguy cơ phải đưa ra các đợt tăng lãi suất dồn dập và đột ngột hơn sau này. Trong một môi trường lãi suất cao, sức hấp dẫn của vàng – tài sản không mang lại lợi suất – thường chịu áp lực sụt giảm.
Về mặt địa chính trị, ngọn lửa căng thẳng tại Trung Đông chưa có dấu hiệu hạ nhiệt. Tổng thống Mỹ Donald Trump đã đáp trả các điều kiện hòa bình của Tehran bằng yêu cầu Iran phải bồi thường cho những người thiệt mạng trong các cuộc chiến tranh, tấn công và biểu tình. Diễn biến này tiếp tục giữ giá dầu thô neo quanh mức cao nhất trong một tuần, duy trì mối lo ngại về lạm phát chi phí đẩy.
Nhóm kim loại quý công nghiệp đồng loạt chìm trong sắc đỏ
Theo chân đà hạ nhiệt của vàng, toàn bộ nhóm kim loại quý công nghiệp cũng chịu áp lực bán và chìm trong sắc đỏ ở phiên giao dịch ngày Thứ Ba: Giá bạc giao ngay sụt giảm mạnh 1,4%, lùi về mốc 64,80 USD/ounce. Giá bạch kim (Platinum) mất 0,7%, giao dịch ở ngưỡng 1.740,37 USD/ounce. Giá Palladium trượt giảm 1,3%, đóng cửa tại mức 1.365,60 USD/ounce.
-
Diễn biến giá vàng trong nước ngày 12/08/2026
Hiện giá vàng trong nước ngày 12/08/2026 niêm yết như sau:
Sản phẩm Hôm nay (17-08-2026) Hôm qua (16-08-2026) Giá mua Giá bán Giá mua Giá bán Bảo Tín Mạnh Hải - Bắc Ninh 140.300 143.300 - - Bảo Tín Mạnh Hải - Hà Nội 140.300 143.300 - - Bảo Tín Mạnh Hải - Hải Dương 140.300 143.300 - - Bảo Tín Minh Châu - Hà Nội 140.200 143.300 - - DOJI - Hà Nội 140.300 143.300 - - DOJI - TP. Hồ Chí Minh 140.300 143.300 - - DOJI - Đà Nẵng 140.300 143.300 - - Mi Hồng - Bến Tre 140.500 142.000 - - Mi Hồng - Tiền Giang 140.500 142.000 - - Mi Hồng - TP. Hồ Chí Minh 140.500 142.000 - - Ngọc Thẩm - Cần Thơ 139.000 142.500 - - Ngọc Thẩm - Long Xuyên 139.000 142.500 - - Ngọc Thẩm - Miền Tây 139.000 142.500 - - Ngọc Thẩm - Mỹ Tho 139.000 142.500 - - Ngọc Thẩm - Sa Đéc 139.000 142.500 - - Ngọc Thẩm - Tân An 139.000 142.500 - - Ngọc Thẩm - TP. Hồ Chí Minh 139.000 142.500 - - Ngọc Thẩm - Trà Vinh 139.000 142.500 - - Ngọc Thẩm - Vĩnh Long 139.000 142.500 - - Ngọc Thẩm - Đông Nam Bộ 139.000 142.500 - - Phú Quý - Hà Nội 140.300 143.300 - - PNJ - Hà Nội 140.300 143.300 - - PNJ - Miền Tây 140.300 143.300 - - PNJ - Tây Nguyên 140.300 143.300 - - PNJ - TP. Hồ Chí Minh 140.300 143.300 - - PNJ - Đà Nẵng 140.300 143.300 - - PNJ - Đông Nam Bộ 140.300 143.300 - - SJC - Bạc Liêu 140.300 143.300 - - SJC - Biên Hòa 140.300 143.300 - - SJC - Cà Mau 140.300 143.300 - - SJC - Hạ Long 140.300 143.300 - - SJC - Hải Phòng 140.300 143.300 - - SJC - Huế 140.300 143.300 - - SJC - Miền Bắc 140.300 143.300 - - SJC - Miền Tây 140.300 143.300 - - SJC - Miền Trung 140.300 143.300 - - SJC - Nha Trang 140.300 143.300 - - SJC - Quảng Ngãi 140.300 143.300 - - SJC - TP. Hồ Chí Minh 140.300 143.300 - -






