Giá vàng thủng mốc 4.000 USD, ghi nhận tuần giảm mạnh nhất 4 tháng

Phản hồi: 1

Thị trường vàng thế giới vừa ghi nhận một phiên giao dịch cuối tuần đầy giông bão khi giá rơi xuống mức thấp nhất trong vòng ba tháng, chính thức đánh mất ngưỡng tâm lý quan trọng 4.000 USD/ounce. Bị kẹp giữa đà tăng vọt của giá dầu thô – yếu tố thổi bùng lo ngại lạm phát – và rủi ro thắt chặt tiền tệ từ Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed), kim loại quý đang hướng tới tuần giao dịch tồi tệ nhất kể từ tháng 6.

gia vang ha nhiet
Giá vàng thủng mốc 4.000 USD, ghi nhận tuần giảm mạnh nhất 4 tháng

Diễn biến thị trường vàng thế giới 24/10/2026

Khép lại phiên giao dịch ngày thứ Sáu, lực bán ồ ạt đã đẩy thị trường kim loại quý chìm sâu trong sắc đỏ: Giá vàng giao ngay (Spot Gold) sụt giảm 0,6%, lùi về mức 3.998,35 USD/ounce. Đáng chú ý, kim loại quý đã có thời điểm chạm mức đáy của phiên là 3.975,23 USD/ounce, đánh dấu lần đầu tiên trượt khỏi mốc 4.000 USD kể từ giữa tháng 7. Giá vàng kỳ hạn Mỹ (giao tháng 12) đóng cửa giảm mạnh 1,3%, chốt phiên ở mức 4.007,90 USD/ounce.

Tính chung cả tuần, giá vàng đã bốc hơi tới 4%, ghi nhận hiệu suất hàng tuần kém nhất trong hơn bốn tháng qua. Cú sốc này bắt nguồn từ thị trường năng lượng khi giá dầu thô Brent chạm đỉnh hơn 5 tháng trước những lo ngại về đứt gãy nguồn cung sau các cuộc tấn công của lực lượng Houthi tại Saudi Arabia.

Đồng thời, vàng còn phải hứng chịu áp lực chéo từ thị trường chứng khoán. Theo chuyên gia phân tích Jim Wyckoff từ American Gold Exchange, làn sóng bán tháo cổ phiếu công nghệ liên quan đến trí tuệ nhân tạo (AI) đã đẩy hai chỉ số S&P 500 và Nasdaq xuống mức thấp nhất 5 tuần. Tình trạng này đã kích hoạt các lệnh gọi ký quỹ (margin calls) đối với các nhà giao dịch cổ phiếu, buộc họ phải ồ ạt thanh lý các tài sản an toàn như vàng và bạc để bù đắp thanh khoản.

Bóng ma lạm phát tước đi cơ hội nới lỏng của Fed

Sự bứt phá của giá dầu đang phá hỏng mọi kỳ vọng về một môi trường tiền tệ nới lỏng. Ông Jim Wyckoff nhấn mạnh: “Những lo ngại ngày càng gia tăng về lạm phát cho thấy các ngân hàng trung ương lớn trên thế giới sẽ không thể nới lỏng chính sách tiền tệ nhanh như họ mong muốn. Tất cả những yếu tố đó hiện đang chống lại phe đầu cơ giá lên trên thị trường vàng và bạc.”

Giới đầu tư đang hướng sự chú ý vào cuộc họp chính sách của Fed diễn ra vào ngày 27-28/10 tới. Mặc dù dữ liệu lạm phát giá tiêu dùng và sản xuất của Mỹ tuần trước đều nóng hơn dự báo, thị trường vẫn kỳ vọng ngân hàng trung ương sẽ tạm dừng hành động trong ngắn hạn. Theo công cụ CME FedWatch, có tới 92% xác suất Fed sẽ giữ nguyên lãi suất trong tuần tới. Tuy nhiên, khả năng cho một đợt thắt chặt vào cuộc họp tháng 12 hiện đang neo ở mức rất cao là 78%.

Mọi manh mối tiếp theo sẽ phụ thuộc vào báo cáo Chỉ số Giá Chi tiêu Tiêu dùng Cá nhân (PCE) – thước đo lạm phát ưu thích của Fed – dự kiến công bố vào ngày 29/10.

Lực cầu vật chất châu Á và đà lao dốc của nhóm kim loại quý

Giữa bức tranh vĩ mô u ám, điểm sáng hiếm hoi đến từ thị trường vật chất châu Á. Tại Ấn Độ, hoạt động mua sắm vàng đã tăng tốc mạnh mẽ trong tuần này khi người dân tận dụng đợt giảm giá mạnh ngay đúng dịp lễ hội lớn Dussehra, giúp đẩy mức phí chênh lệch (premium) lên cao. Trong khi đó, tại thị trường tiêu thụ hàng đầu là Trung Quốc, nhu cầu vật chất vẫn duy trì ổn định dù người tiêu dùng nhìn chung vẫn thận trọng thắt chặt chi tiêu đối với các mặt hàng trang sức.

Dù vậy, tín hiệu từ châu Á không đủ để cứu vãn đà sụt giảm đồng loạt của toàn bộ nhóm kim loại quý trong phiên cuối tuần: Giá bạc giao ngay trượt 1%, rơi xuống 53,97 USD/ounce – mức thấp nhất kể từ tháng 11/2025. Bạch kim (Platinum) giảm 0,9%, lùi về 1.555,84 USD/ounce – mức thấp nhất kể từ tháng 7. Palladium mất 0,5% giá trị, đóng cửa tại mức 1.048,31 USD/ounce – chạm đáy thấp nhất kể từ tháng 6/2025.

Cả ba mặt hàng kim loại công nghiệp này đều đồng cảnh ngộ với vàng, chính thức khép lại một tuần giao dịch với các mức suy giảm nặng nề.

Diễn biến giá vàng trong nước ngày 24/10/2026

Hiện giá vàng trong nước ngày 24/10/2026 niêm yết như sau:

Sản phẩm Hôm nay (27-10-2026) Hôm qua (26-10-2026)
Giá mua Giá bán Giá mua Giá bán
Bảo Tín Mạnh Hải - Bắc Ninh 138.700 141.700 - -
Bảo Tín Mạnh Hải - Hà Nội 138.700 141.700 - -
Bảo Tín Mạnh Hải - Hải Dương 138.700 141.700 - -
Bảo Tín Minh Châu - Hà Nội 137.000 141.700 - -
DOJI - Hà Nội 138.700 141.700 - -
DOJI - TP. Hồ Chí Minh 138.700 141.700 - -
DOJI - TP.Hồ Chí Minh 138.700 141.700 - -
DOJI - Đà Nẵng 138.700 141.700 - -
Mi Hồng - Bến Tre 140.500 142.000 - -
Mi Hồng - Tiền Giang 140.500 142.000 - -
Mi Hồng - TP. Hồ Chí Minh 140.500 142.000 - -
Mi Hồng - TP.Hồ Chí Minh 140.500 142.000 - -
Ngọc Thẩm - Cần Thơ 138.000 141.500 - -
Ngọc Thẩm - Long Xuyên 138.000 141.500 - -
Ngọc Thẩm - Miền Tây 138.000 141.500 - -
Ngọc Thẩm - Mỹ Tho 138.000 141.500 - -
Ngọc Thẩm - Sa Đéc 138.000 141.500 - -
Ngọc Thẩm - Tân An 138.000 141.500 - -
Ngọc Thẩm - TP. Hồ Chí Minh 138.000 141.500 - -
Ngọc Thẩm - TP.Hồ Chí Minh 138.000 141.500 - -
Ngọc Thẩm - Trà Vinh 138.000 141.500 - -
Ngọc Thẩm - Vĩnh Long 138.000 141.500 - -
Ngọc Thẩm - Đông Nam Bộ 138.000 141.500 - -
Phú Quý - Hà Nội 137.500 141.700 - -
PNJ - Hà Nội 139.000 142.000 - -
PNJ - Miền Tây 139.000 142.000 - -
PNJ - Tây Nguyên 139.000 142.000 - -
PNJ - TP. Hồ Chí Minh 139.000 142.000 - -
PNJ - TP.Hồ Chí Minh 139.000 142.000 - -
PNJ - Đà Nẵng 139.000 142.000 - -
PNJ - Đông Nam Bộ 139.000 142.000 - -
SJC - Bạc Liêu 139.000 142.000 - -
SJC - Biên Hòa 139.000 142.000 - -
SJC - Cà Mau 139.000 142.000 - -
SJC - Hạ Long 139.000 142.000 - -
SJC - Hải Phòng 139.000 142.000 - -
SJC - Huế 139.000 142.000 - -
SJC - Miền Bắc 139.000 142.000 - -
SJC - Miền Tây 139.000 142.000 - -
SJC - Miền Trung 139.000 142.000 - -
SJC - Nha Trang 139.000 142.000 - -
SJC - Quảng Ngãi 139.000 142.000 - -
SJC - TP. Hồ Chí Minh 139.000 142.000 - -
SJC - TP.Hồ Chí Minh 139.000 142.000 - -