Chợ giá – Giá vàng thế giới khép lại tuần giao dịch trong sắc xanh nhạt vào ngày Thứ Sáu, nhưng vẫn không thể tránh khỏi một tuần giảm giá sâu. Nỗi lo lạm phát dai dẳng, những thông điệp “diều hâu” từ Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) và đà tăng không ngừng của lợi suất trái phiếu Kho bạc Mỹ tiếp tục làm xói mòn sức hấp dẫn của kim loại quý không sinh lời.

Diễn biến thị trường vàng thế giới
Cập nhật vào sáng 27/09, diễn biến giao dịch ghi nhận sự phục hồi nhẹ ở phiên khớp lệnh cuối cùng: Giá vàng giao ngay (Spot Gold nhích tăng 0,1%, neo ở mức 4.282,98 USD/ounce. Dù hồi phục nhẹ trong phiên, vàng vẫn ghi nhận mức giảm khoảng 2,1% tính chung cho cả tuần giao dịch. Các hợp đồng vàng kỳ hạn Mỹ giao sau chốt phiên tăng 0,5%, đạt 4.321,20 USD/ounce.
Ông Han Tan, Chuyên gia phân tích thị trường trưởng tại Bybit, nhận định về xu hướng tuần: “Đà tăng phi mã không ngừng của lợi suất trái phiếu Kho bạc đã khiến vàng phải đối mặt với tuần giảm giá thứ 4 trong vòng 5 tuần qua. Kim loại quý không sinh lời này đang phải vật lộn trước một tổ hợp ‘gió ngược’ dữ dội, bao gồm rủi ro lạm phát tiềm ẩn dai dẳng, lợi suất trái phiếu tăng mất kiểm soát và một Fed kiên định lập trường thắt chặt.”
Hiện tại, giá vàng đã sụt giảm khoảng 19% so với mức đỉnh kỷ lục từng thiết lập trong phiên ngày 27/2 (thời điểm cuộc chiến Mỹ – Israel và Iran bùng nổ).
“Cơn gió ngược” từ lợi suất trái phiếu đỉnh 19 năm và kỳ vọng tăng lãi suất
Lợi suất trái phiếu Kho bạc Mỹ kỳ hạn 10 năm chuẩn vừa thiết lập mức đỉnh mới trong vòng 19 năm, đẩy chi phí cơ hội của việc nắm giữ tài sản không trả lãi như vàng lên mức cao kỷ lục.
Kể từ khi chiến sự Trung Đông nổ ra, giá năng lượng neo cao liên tục giữ cho bóng ma lạm phát hiện hữu, buộc các ngân hàng trung ương trên thế giới phải áp dụng khuôn khổ chính sách thắt chặt tiền tệ.
Sau khi tăng lãi suất 0,25 điểm phần trăm vào tuần trước – lần nâng đầu tiên sau ba năm – Fed đã liên tục phát đi tín hiệu sẽ có thêm các đợt tăng tiếp theo trong năm nay. Theo công cụ CME FedWatch, giới giao dịch hiện đang định giá có tới 66% cơ hội Fed sẽ tiếp tục nâng lãi suất trong cuộc họp tháng 10 và xác suất này lên tới 93% cho cuộc họp tháng 12.
Dù vàng thường được coi là công cụ phòng hộ chống lạm phát và là kênh trú ẩn rủi ro địa chính trị, nhưng môi trường lãi suất cao ngất ngưởng đang thúc đẩy nhà đầu tư chuyển dịch dòng vốn sang các loại tài sản sinh lợi tức.
Tín hiệu đàm phán tại New York và đà hạ nhiệt của giá dầu
Bên lề Đại hội đồng Liên Hợp Quốc tại New York, các nhà đàm phán đang nỗ lực tìm kiếm một lộ trình từng bước (phased path) để hạ nhiệt cuộc chiến. Theo các nguồn tin ngoại giao, thỏa thuận này có thể bao gồm việc Tehran mở lại quyền lưu thông tự do qua eo biển Hormuz và việc Washington dỡ bỏ thế bao vây, phong tỏa kinh tế đối với Iran.
Trước những hy vọng ngoại giao này, giá dầu thô đã ghi nhận mức giảm khoảng 3%, qua đó giải tỏa phần nào mối lo ngại về cú sốc nguồn cung năng lượng. Tuy nhiên, việc giá dầu hạ nhiệt cũng đồng thời kéo giảm nhu cầu mua vàng để phòng vệ rủi ro tức thời.
Nhóm kim loại công nghiệp đồng loạt khép lại tuần ảm đạm
Cùng chung số phận với vàng, toàn bộ nhóm kim loại quý công nghiệp đều ghi nhận mức sụt giảm tính chung trên cả tuần giao dịch, dù có nhịp hồi phục phân hóa trong phiên Thứ Sáu: Giá bạc giao ngay tăng nhẹ 0,5%, đạt 64,26 USD/ounce. Giá bạch kim (Platinum) bứt phá 1,7%, giao dịch tại 1.780,28 USD/ounce. Giá Palladium trượt giảm 0,3%, lùi về mức 1.270,30 USD/ounce.
-
Diễn biến giá vàng trong nước ngày 27/092026
Hiện giá vàng trong nước ngày 27/09/2026 niêm yết như sau:
Sản phẩm Hôm nay (28-09-2026) Hôm qua (27-09-2026) Giá mua Giá bán Giá mua Giá bán Bảo Tín Mạnh Hải - Bắc Ninh 141.400 144.400 - - Bảo Tín Mạnh Hải - Hà Nội 141.400 144.400 - - Bảo Tín Mạnh Hải - Hải Dương 141.400 144.400 - - Bảo Tín Minh Châu - Hà Nội 141.400 144.400 - - DOJI - Hà Nội 141.400 144.400 - - DOJI - TP. Hồ Chí Minh 141.400 144.400 - - DOJI - TP.Hồ Chí Minh 141.400 144.400 - - DOJI - Đà Nẵng 141.400 144.400 - - Mi Hồng - Bến Tre 142.900 144.400 - - Mi Hồng - Tiền Giang 142.900 144.400 - - Mi Hồng - TP. Hồ Chí Minh 142.900 144.400 - - Mi Hồng - TP.Hồ Chí Minh 142.900 144.400 - - Ngọc Thẩm - Cần Thơ 141.000 144.500 - - Ngọc Thẩm - Long Xuyên 141.000 144.500 - - Ngọc Thẩm - Miền Tây 141.000 144.500 - - Ngọc Thẩm - Mỹ Tho 141.000 144.500 - - Ngọc Thẩm - Sa Đéc 141.000 144.500 - - Ngọc Thẩm - Tân An 141.000 144.500 - - Ngọc Thẩm - TP. Hồ Chí Minh 141.000 144.500 - - Ngọc Thẩm - TP.Hồ Chí Minh 141.000 144.500 - - Ngọc Thẩm - Trà Vinh 141.000 144.500 - - Ngọc Thẩm - Vĩnh Long 141.000 144.500 - - Ngọc Thẩm - Đông Nam Bộ 141.000 144.500 - - Phú Quý - Hà Nội 141.400 144.400 - - PNJ - Hà Nội 141.400 144.400 - - PNJ - Miền Tây 141.400 144.400 - - PNJ - Tây Nguyên 141.400 144.400 - - PNJ - TP. Hồ Chí Minh 141.400 144.400 - - PNJ - TP.Hồ Chí Minh 141.400 144.400 - - PNJ - Đà Nẵng 141.400 144.400 - - PNJ - Đông Nam Bộ 141.400 144.400 - - SJC - Bạc Liêu 141.400 144.400 - - SJC - Biên Hòa 141.400 144.400 - - SJC - Cà Mau 141.400 144.400 - - SJC - Hạ Long 141.400 144.400 - - SJC - Hải Phòng 141.400 144.400 - - SJC - Huế 141.400 144.400 - - SJC - Miền Bắc 141.400 144.400 - - SJC - Miền Tây 141.400 144.400 - - SJC - Miền Trung 141.400 144.400 - - SJC - Nha Trang 141.400 144.400 - - SJC - Quảng Ngãi 141.400 144.400 - - SJC - TP. Hồ Chí Minh 141.400 144.400 - - SJC - TP.Hồ Chí Minh 141.400 144.400 - -















